Công văn 1259/CT-CS năm 2026 của Cục Thuế đã làm rõ quy trình xác nhận số tiền sử dụng đất đã nộp. Đây là thông tin quan trọng giúp người dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình một cách minh bạch, đồng thời là cơ sở để cơ quan chức năng xử lý các hồ sơ liên quan đến quyền sử dụng đất.
Công văn 1259/CT-CS năm 2026: Hướng dẫn chi tiết về việc xác nhận số tiền sử dụng đất đã nộp
Vào ngày 03 tháng 03 năm 2026, Cục Thuế đã ban hành Công văn số 1259/CT-CS năm 2026, cung cấp những hướng dẫn cụ thể về vấn đề tiền sử dụng đất. Công văn này ra đời nhằm giải đáp thắc mắc của người dân về cách thức xác nhận số tiền sử dụng đất đã nộp, đặc biệt là trong các trường hợp liên quan đến đất được giao không đúng thẩm quyền.
Quy định về cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất giao không đúng thẩm quyền
Theo quy định tại khoản 2 Điều 140 của Luật Đất đai 2024, đối với trường hợp đất đã được sử dụng ổn định từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 07 năm 2004, nếu Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, thì người sử dụng đất sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.
Tính tiền sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận theo Công văn 1259/CT-CS 2026
Khoản 2 Điều 12 của Nghị định 103/2024/NĐ-CP, về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, đã quy định rõ cách tính tiền sử dụng đất cho các trường hợp hộ gia đình, cá nhân được cấp Giấy chứng nhận theo Điều 140 Luật Đất đai.
Trường hợp không có giấy tờ chứng minh đã nộp tiền
Nếu không có giấy tờ chứng minh đã hoàn thành việc nộp tiền để được sử dụng đất, tiền sử dụng đất sẽ được tính theo quy định tại khoản 3 Điều 138 Luật Đất đai và khoản 3 Điều 10 của Nghị định này.
Trường hợp có giấy tờ chứng minh đã nộp đủ tiền
Nếu có đầy đủ giấy tờ chứng minh đã nộp đủ tiền để được sử dụng đất theo quy định tại khoản 5 Điều này, thì người sử dụng đất sẽ không phải nộp thêm tiền sử dụng đất.
Trường hợp số tiền đã nộp thấp hơn mức quy định
Trong trường hợp giấy tờ chứng minh đã nộp tiền nhưng số tiền đó thấp hơn mức quy định của pháp luật tại thời điểm nộp, số tiền đã nộp sẽ được quy đổi thành tỷ lệ phần trăm diện tích đất đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính. Phần diện tích đất còn lại sẽ được tính theo quy định tại điểm a khoản này, áp dụng chính sách và giá đất tại thời điểm nộp đủ hồ sơ hợp lệ.
Các loại giấy tờ chứng minh việc đã nộp tiền
Các giấy tờ chứng minh về việc đã nộp tiền cho cơ quan, tổ chức để được sử dụng đất bao gồm:
- Biên lai, phiếu thu, hóa đơn thu tiền để được sử dụng đất hoặc thu tiền đền bù theo Quyết định số 186/HĐBT ngày 31 tháng 5 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác.
- Biên lai, phiếu thu, hóa đơn thu tiền theo Thông tư số 60/TC-TCT ngày 16 tháng 7 năm 1993 của Bộ Tài chính về hướng dẫn chế độ quản lý thu đối với việc bán nhà thuộc sở hữu nhà nước, cấp quyền sử dụng đất xây dựng nhà ở và công trình.
- Biên lai, phiếu thu, hóa đơn chứng minh đã nộp tiền để được sử dụng đất của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc của cơ quan, tổ chức đã giao đất không đúng thẩm quyền.
- Trong trường hợp các giấy tờ trên bị mất, thất lạc nhưng cơ quan, tổ chức đã giao đất không đúng thẩm quyền còn lưu trữ hồ sơ ghi chép về việc người sử dụng đất đã nộp tiền, thì người sử dụng đất có thể đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận hoặc sao y bản chính. Bản xác nhận hoặc sao y bản chính này có giá trị tương đương các giấy tờ đã nêu.
Trách nhiệm của cơ quan thuế trong việc xác định và thu tiền sử dụng đất
Theo khoản 3 Điều 44 Nghị định 103/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại điểm b khoản 21 Điều 13 Nghị định 50/2026/NĐ-CP, cơ quan thuế có trách nhiệm xác định và thu nộp tiền sử dụng đất:
- Căn cứ vào quy định của Nghị định, Phiếu chuyển thông tin từ Văn phòng đăng ký đất đai hoặc các đơn vị liên quan, cơ quan thuế sẽ thực hiện tính toán tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, bao gồm các khoản tiền liên quan đến mặt nước, xây dựng công trình ngầm, cũng như tiền đất trước khi chuyển mục đích sử dụng đất.
- Cơ quan thuế cũng chịu trách nhiệm tính toán số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất được miễn, giảm và các khoản cần thu hồi theo quy định.
- Đồng thời, cơ quan thuế sẽ thông báo cho người sử dụng đất về số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất được giảm theo quy định.

Công văn 1259 CT CS 2026 Cục Thuế hướng dẫn về xác nhận số tiền sử dụng đất đã nộp thế nào? (Hình từ Internet)
Nguyên tắc sử dụng đất theo Luật Đất đai 2024
Luật Đất đai 2024, tại Điều 5, đã quy định rõ các nguyên tắc sử dụng đất, đảm bảo sự phát triển bền vững và hiệu quả:
- Đúng mục đích sử dụng đất: Việc sử dụng đất phải tuân thủ đúng mục đích đã được quy hoạch và cho phép.
- Bền vững, tiết kiệm, hiệu quả: Quá trình sử dụng đất cần hướng tới sự bền vững, tiết kiệm tài nguyên đất và có hiệu quả kinh tế, xã hội.
- Bảo vệ đất, môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu: Cần có các biện pháp bảo vệ đất, hạn chế ô nhiễm, thoái hóa đất và ứng phó với biến đổi khí hậu.
- Thực hiện quyền và nghĩa vụ: Người sử dụng đất phải thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, đồng thời tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của những người sử dụng đất liền kề.
Trách nhiệm của các chủ thể đối với việc sử dụng đất
Luật Đất đai 2024, Điều 6, đã xác định rõ các đối tượng phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc sử dụng đất:
- Người đại diện theo pháp luật của các tổ chức trong nước, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, cũng như người đứng đầu các tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, chịu trách nhiệm về việc sử dụng đất của tổ chức mình.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm đối với việc sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích công ích, đất phi nông nghiệp đã giao cho xã để xây dựng công trình công cộng, và đất tôn giáo, đất tín ngưỡng chưa được giao quản lý.
- Người đại diện cho cộng đồng dân cư (trưởng thôn, làng, ấp, bản, bon, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự) có trách nhiệm về việc sử dụng đất của cộng đồng.
- Người đại diện cho tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc chịu trách nhiệm về việc sử dụng đất của tổ chức mình.
- Cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài chịu trách nhiệm về việc sử dụng đất của bản thân.
- Người có chung quyền sử dụng đất hoặc người đại diện cho nhóm người có chung quyền sử dụng đất chịu trách nhiệm về việc sử dụng đất đó.