Diễn giải Công văn 509: Đất ở bồi thường không đủ chia riêng cho từng hộ

Giải mã Công văn 509: Diện tích đất ở bồi thường không đủ giao riêng cho từng hộ gia đình nghĩa là gì?

Khi Nhà nước thu hồi đất, việc bồi thường và giao đất tái định cư là vấn đề nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người dân. Đặc biệt, cụm từ “diện tích đất ở được bồi thường không đủ để giao riêng cho từng hộ gia đình” theo Công văn 509 đang gây ra nhiều thắc mắc. Bài viết này sẽ làm rõ ý nghĩa của quy định này.

Diễn giải Công văn 509: Đất ở bồi thường không đủ chia riêng cho từng hộ

Ý nghĩa của diện tích đất ở được bồi thường không đủ để giao riêng cho từng hộ gia đình theo Công văn 509

Vào ngày 03/03/2026, Cục Quản lý đất đai đã ban hành Công văn 509/QLĐĐ-KTPTQĐ năm 2026 nhằm giải đáp các phản ánh, kiến nghị về việc bồi thường và giao đất ở cho hộ gia đình.

Tham khảo toàn bộ nội dung Công văn 509/QLĐĐ-KTPTQĐ năm 2026 tại đây.

Hệ thống tiếp nhận phản ánh về quy phạm pháp luật đã nhận được ý kiến đóng góp từ người dân, chỉ ra những bất cập trong quy định tại Khoản 4 Điều 111 Luật Đất đai 2024. Quy định này được cho là gây khó khăn, mâu thuẫn trong quá trình thực thi pháp luật, ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người dân.

(1) Quy định thiếu rõ ràng, thiếu tính định lượng

Khoản 4 Điều 111 Luật Đất đai 2024 quy định về bồi thường cho các hộ gia đình nhiều thế hệ cùng sinh sống: “…mà diện tích đất ở được bồi thường không đủ để giao riêng cho từng hộ gia đình thì được xem xét hỗ trợ để giao đất ở có thu tiền sử dụng đất…”. Tuy nhiên, trong thực tiễn triển khai, quy định này lại thiếu các tiêu chí định lượng và định nghĩa kỹ thuật cụ thể. Điều này dẫn đến việc áp dụng tùy tiện và thiếu nhất quán.

Vấn đề thứ nhất nằm ở khái niệm “Diện tích đất ở được bồi thường”. Luật chưa làm rõ đây là diện tích đất ở thực tế bị thu hồi theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hay là diện tích đất ở được bồi thường cho mục đích tái định cư. Sự mơ hồ này tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau giữa người dân và cơ quan chức năng.

Vấn đề thứ hai là tiêu chí xác định “Hộ đủ” và “Hộ thiếu”. Luật và các văn bản hướng dẫn chưa đưa ra mức diện tích chuẩn để so sánh (hạn mức hoặc định mức diện tích tối thiểu). Điều này khiến các cơ quan thực thi có thể đưa ra quyết định mang tính chủ quan. Trên thực tế, nhiều trường hợp hộ gia đình có nhiều thế hệ sinh sống đều bị coi là “hộ thiếu” để hạn chế việc giao đất ở tái định cư, gây thiệt hại cho quyền lợi của các hộ gia đình mới tách.

Diễn giải Công văn 509: Đất ở bồi thường không đủ chia riêng cho từng hộ

Giải mã Công văn 509 về diện tích đất ở được bồi thường không đủ để giao riêng cho từng hộ gia đình. (Ảnh minh họa từ Internet)

(2) Hệ quả và đề xuất giải pháp

Sự thiếu hụt trong định nghĩa và các tiêu chí cụ thể nêu trên đã gây ra mâu thuẫn trong việc áp dụng pháp luật giữa các cơ quan thực hiện bồi thường. Điều này dẫn đến tình trạng khiếu nại kéo dài và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người dân. Để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và nghiêm minh của pháp luật, người dân đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường có văn bản hướng dẫn cụ thể, làm rõ khái niệm “Diện tích đất ở được bồi thường” và các căn cứ định lượng (tính bằng mét vuông) để xác định một hộ gia đình là “đủ” hay “thiếu” diện tích đất ở theo Khoản 4 Điều 111 Luật Đất đai 2024.

Đồng thời, cần xây dựng bộ tiêu chí xác định điều kiện “hộ gia đình còn thiếu”, dựa trên sự tương quan giữa diện tích đất bị thu hồi, số lượng cặp vợ chồng/thế hệ thực tế và hạn mức giao đất ở tại địa phương để đảm bảo tính khách quan.

Sau khi xem xét nội dung kiến nghị, Cục Quản lý đất đai đã đưa ra ý kiến: Cụm từ “… diện tích đất ở được bồi thường không đủ để giao riêng cho từng hộ gia đình” được quy định tại khoản 4 Điều 111 Luật Đất đai 2024, được hiểu là diện tích đất ở được bồi thường (chứ không phải diện tích đất ở bị thu hồi). Việc hỗ trợ giao đất ở có thu tiền sử dụng đất hoặc bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở cho các hộ gia đình còn thiếu thuộc thẩm quyền quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, theo quy định tại khoản 10 Điều 111 Luật Đất đai 2024.

Diện tích đất thực tế khác trên giấy tờ, người dân sẽ được bồi thường như thế nào khi nhà nước thu hồi đất?

Căn cứ theo Điều 6 Nghị định 88/2024/NĐ-CP, khi Nhà nước thu hồi đất mà diện tích đo đạc thực tế khác với diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất, việc bồi thường sẽ được thực hiện như sau:

  • Trường hợp diện tích đo đạc thực tế nhỏ hơn diện tích ghi trên Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ có liên quan: Bồi thường về đất theo đúng diện tích đo đạc thực tế, tuân theo quy định tại khoản 6 Điều 135 Luật Đất đai 2024. Nếu việc đo đạc thực tế đã hoàn thành phục vụ công tác thu hồi đất, nhưng sau đó do thiên tai, sạt lở, sụt lún mà diện tích thửa đất bị thay đổi vào thời điểm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thì sẽ sử dụng số liệu đã đo đạc để lập phương án.

  • Trường hợp có sự chênh lệch diện tích mà số liệu đo đạc thực tế lớn hơn số liệu ghi trên Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ có liên quan, không có tranh chấp với người sử dụng đất liền kề: Diện tích bồi thường sẽ được xác định theo số liệu đo đạc thực tế, theo quy định tại khoản 6 Điều 135 Luật Đất đai 2024.

  • Trường hợp Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ có liên quan mà vị trí, tọa độ không chính xác: Sẽ xem xét bồi thường theo đúng vị trí, tọa độ đã được đo đạc thực tế.

Việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm yếu tố gì?

Theo quy định tại Điều 91 Luật Đất đai 2024, việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

  • Dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, minh bạch, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.
  • Vì lợi ích chung, sự phát triển bền vững, văn minh và hiện đại của cộng đồng, của địa phương.
  • Quan tâm đến đối tượng chính sách xã hội, đối tượng trực tiếp sản xuất nông nghiệp.

Do đó, mọi quy trình bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất cần đảm bảo các yếu tố trên để quyền lợi của người dân được bảo vệ một cách tốt nhất.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang