Tuyệt vời! Với vai trò là chuyên gia SEO và copywriter, tôi đã xử lý và viết lại nội dung bài viết theo yêu cầu của bạn. Dưới đây là bản hoàn chỉnh:
Người bị thu hồi đất không nhận tiền bồi thường thì xử lý khoản tiền bồi thường này như thế nào?
Khi Nhà nước thu hồi đất, quyền lợi của người dân luôn được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người có đất bị thu hồi hoặc chủ sở hữu tài sản có thể không nhận ngay khoản tiền bồi thường. Vậy, khi người bị thu hồi đất không nhận tiền bồi thường, khoản tiền này sẽ được xử lý ra sao? Bài viết này sẽ giải đáp chi tiết.
Người bị thu hồi đất không nhận tiền bồi thường thì xử lý khoản tiền bồi thường này như thế nào?
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 94 Luật Đất đai 2024, khi người có đất thu hồi hoặc chủ sở hữu tài sản không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án đã được phê duyệt, hoặc khi có tranh chấp về đất đai, tài sản, thì khoản tiền bồi thường này sẽ được gửi vào tài khoản tiền gửi riêng. Tài khoản này thuộc về đơn vị hoặc tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Ngân hàng thương mại mà nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối sẽ tiếp nhận khoản tiền này và áp dụng lãi suất không kỳ hạn. Điều quan trọng là, tiền lãi phát sinh từ khoản tiền bồi thường này sẽ được trả lại cho chính người có quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản được bồi thường.
Quy định này cũng được nhấn mạnh thêm tại khoản 6 Điều 9 Nghị định 254/2025/NĐ-CP về tạm ứng vốn. Đối với các công việc liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, nếu người dân không nhận tiền hoặc có tranh chấp, đơn vị thực hiện nhiệm vụ sẽ chuyển toàn bộ số tiền tạm ứng về tài khoản tiền gửi tại ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối với lãi suất không kỳ hạn. Đồng thời, họ cần báo cáo chủ đầu tư chi tiết về khoản tiền này, tách bạch theo từng quyết định phê duyệt phương án bồi thường cho từng dự án và từng chủ sở hữu. Trách nhiệm pháp lý về việc xác định đúng số tiền được gửi tại ngân hàng trong các trường hợp này thuộc về chủ đầu tư và đơn vị thực hiện nhiệm vụ bồi thường.
Do đó, khi người bị thu hồi đất không nhận tiền bồi thường, khoản tiền này sẽ được gửi vào tài khoản chuyên biệt tại ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối với lãi suất không kỳ hạn. Lợi tức từ khoản tiền này sẽ thuộc về người có quyền lợi hợp pháp.

Hình ảnh minh họa: Người bị thu hồi đất không nhận tiền bồi thường thì xử lý khoản tiền bồi thường này như thế nào?
Kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án được quy định như thế nào?
Việc đảm bảo nguồn kinh phí cho công tác bồi thường, hỗ trợ, và tái định cư là yếu tố then chốt khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ các dự án. Theo khoản 2 Điều 28 Nghị định 88/2024/NĐ-CP, khoản kinh phí này sẽ được tính vào tổng mức đầu tư của dự án.
Cụ thể, các Bộ, ngành sẽ chịu trách nhiệm đảm bảo kinh phí cho các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, chấp thuận hoặc quyết định đầu tư của Thủ tướng Chính phủ, cũng như các dự án do chính Bộ, ngành làm chủ đầu tư hoặc quyết định đầu tư.
Đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, hoặc các dự án được giao trách nhiệm cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bố trí kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định pháp luật, thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ là đơn vị đảm bảo nguồn kinh phí này. Trong trường hợp chủ đầu tư tự nguyện ứng trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho đơn vị thực hiện nhiệm vụ, chủ đầu tư sẽ có trách nhiệm đảm bảo nguồn kinh phí đó.
Việc trừ khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai vào số tiền được bồi thường như thế nào?
Khi thực hiện việc bồi thường, các khoản nghĩa vụ tài chính về đất đai chưa hoàn thành của người sử dụng đất cũng sẽ được xem xét. Theo khoản 1 Điều 25 Nghị định 88/2024/NĐ-CP, việc trừ các khoản này vào số tiền bồi thường được quy định rõ ràng.
Khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính bao gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền chậm nộp (nếu có) tính đến thời điểm phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được phê duyệt mà chưa được thanh toán. Số tiền này sẽ được xác định theo đúng quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất và tiền thuê đất.
Trường hợp số tiền nghĩa vụ tài chính còn nợ lớn hơn số tiền bồi thường được nhận tại thời điểm phê duyệt phương án, thì hộ gia đình, cá nhân đó sẽ được ghi nợ phần chênh lệch. Nếu họ được bố trí tái định cư, sau khi trừ khoản tiền bồi thường vào chi phí nhận đất ở hoặc mua nhà tại nơi tái định cư mà vẫn còn chênh lệch âm, thì khoản tiền đó cũng tiếp tục được ghi nợ.
Các khoản tiền được dùng để trừ vào nghĩa vụ tài chính bao gồm tiền bồi thường về đất và tiền bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có). Tuy nhiên, các khoản bồi thường về chi phí di chuyển, thiệt hại tài sản, thiệt hại do ngừng sản xuất kinh doanh, cũng như các khoản hỗ trợ khác, sẽ không bị trừ vào khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai.
Như vậy, việc xử lý khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai vào số tiền được bồi thường cần tuân thủ chặt chẽ các quy định pháp luật hiện hành để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan.